
SỞ KIỆN – CHỨNG NHÂN ĐỨC TIN
Tên gọi Sở Kiện là một tên ghép được hình thành từ việc sáp nhập hai ngôi làng cổ nằm cạnh nhau. Làng Sở (còn gọi là Ninh Phú) nằm ở phía Đông, đây là ngôi làng thuần nông, dân cư chủ yếu chuyên canh nghề làm ruộng. Làng Kiện (nằm cận kề thị trấn Kiện Khê) là ngôi làng có truyền thống thương mại và thủ công nghiệp. Dân làng Kiện nổi tiếng với các nghề buôn bán, chẻ đá và nung vôi dọc theo bờ sông Đáy.[1] Sở Kiện từng là nơi trung tâm và thủ phủ của Địa phận Tây Đàng Ngoài, đã trải qua dòng lịch sử với nhiều biến động thăng trầm và có những giai đoạn hiện diện trong lặng thầm.
Khởi nguồn và sự hiện diện sơ khai
Sở Kiện, ban đầu mang tên Kẻ Sở, đã có lịch sử Kitô giáo lâu đời và là một trong những giáo xứ gốc của địa phận. Năm 1668, Cha Deydier đã đến thăm và coi sóc Kẻ Sở cùng Trình Xuyên từ 28/7 đến 23/12/1668. Trong 33 ngày làm việc tại đây, ngài đã giải tội cho hơn 2.000 tín hữu và ban bí tích rửa tội cho 758 người, bao gồm cả những thầy pháp đã từ bỏ mê tín. Đến năm 1790, Cha Philippe Sérard đã thực hiện các kỳ tĩnh tâm liên tiếp tại Kẻ Sở và các vùng phụ cận. Năm 1831, Đức cha Havard đã thành lập một “chủng viện phôi thai” tại Ngọc Lâu, thuộc giáo xứ Kẻ Sở. Đến năm 1843, Sở Kiện đã phát triển mạnh mẽ với 3.244 tín hữu.[2]
Những con số trên cho thấy một Kẻ Sở đã hiện diện, phát triển và trở thành một giáo xứ lớn, sầm uất với hàng ngàn giáo dân. Như vậy, tính đến năm 1668, giáo xứ Kẻ Sở không phải mới được thành lập nhưng đã có từ rất sớm, trước cả khi được sử sách ghi chép lại.
Quyết định chọn Kẻ Sở làm “Thủ phủ” (Giai đoạn 1857 – 1862)
Trở thành thủ phủ của địa phận Tây Đàng Ngoài chính là bước ngoặt lịch sử rất lớn đối với Kẻ Sở. Ngày 27/2/1857, trung tâm Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị) bị bao vây, nhà cửa và nhà thờ bị san phẳng, tài sản giáo phận bị cướp bóc khiến các thừa sai phải trốn chạy. Vì thế, sau khi trung tâm Kẻ Vĩnh bị tàn phá và san phẳng vào năm 1857-1858, Kẻ Sở được chọn làm trung tâm hành chính và tôn giáo mới của Địa phận Tây Đàng Ngoài. Bề trên quyết định chuyển Tòa Giám mục từ Kẻ Vĩnh về Kẻ Sở. Bởi, nơi đây có một vị trí chiến lược nằm bên bờ sông Đáy, gần núi, dễ dàng rút lui và ẩn nấp khi gặp nguy hiểm.[3]
Hơn thế nữa, người dân Kẻ Sở được ghi nhận là những Kitô hữu mẫu mực, luôn tận tâm bảo vệ các nhà truyền giáo. Trong thời gian bách hại, Đức Cha Jeantet (Đức Cha Khiêm) đã từng phải ẩn náu tại đây trong một gia đình giáo dân, bên cạnh một chuồng trâu.[4] Vào thời điểm đó, Kẻ Sở vẫn chưa có được vẻ huy hoàng như hiện đại nhưng lòng kiên trung nơi những người giáo hữu góp phần làm nên một trung tâm xứng tầm của địa phận.
Thời kỳ Tái thiết và Kiến trúc Huy hoàng (Dưới thời Đức cha Puginier)
Với hiệp ước 1862, hoà bình được lập lại, Đức Cha Puginier (Đức Cha Phước) đã biến Kẻ Sở thành một quần thể kiến trúc đồ sộ. Ngài đã tận dụng thời gian này, từ 1868 đến 1873, để xây dựng lại và mở rộng cộng đoàn Kẻ Sở. Ngài đã quy tụ về đây đại chủng viện, trường thầy giảng, nhà quản lý và nhà in. Từ đó, Kẻ Sở được quy hoạch một cách toàn bộ. Các công trình được thiết kế như một hình tứ giác lớn (dài 600m, rộng 350m), bao quanh bởi rặng tre dày và hào nước để phòng vệ.[5]
Kẻ Sở chính thức mang diện mạo huy hoàng như một Tòa Giám mục. Nhà thờ Chính tòa được Đức Cha Puginier khởi công và hoàn thành vào năm 1882 và được ví như một ngọn hải đăng rực rỡ của đức tin.[6] Về kiến trúc Tòa giám mục là nơi ở của đức Giám mục và các thừa sai, ban đầu là những ngôi nhà gỗ mái tranh khiêm tốn. Các phòng riêng của thừa sai được thiết kế đơn giản nhưng thoáng đãng, có phản gỗ đặc trưng của người An Nam để làm việc và nghỉ ngơi.[7]
Trung tâm Giáo dục và văn hóa
Không những là trung tâm tôn giáo, Kẻ Sở còn trở thành “vườn ươm” hàng đầu cho hàng giáo sĩ và là trung tâm văn hóa của địa phận. Thứ nhất, sự hiện diện của Đại chủng viện Kẻ Sở đã là nơi đào tạo hàng trăm linh mục bản xứ trong suốt 70 năm.[8] Đại chủng viện gồm 4 dãy nhà tạo thành hình vuông, có sân chơi bi sắt và cảnh quan thanh tịnh với hàng cau, bồn hoa.[9] Thứ hai, Trường Thầy Giảng được thành lập vào năm 1868, để đào tạo các trụ cột mục vụ (Kẻ Giảng) giúp việc cho các linh mục. Các thầy giảng đóng vai trò quan trọng trong việc dạy giáo lý cho người mới trở lại đạo.
Thứ ba, điểm đánh dấu sự phát triển của văn hóa với Nhà in Kẻ Sở. Với tên gọi Ninh Phú đường, Nhà in được Đức Cha Puginier (Đức Cha Phước) thiết lập vào năm 1868 khi ngài đang là Giám mục phó. Đây là một trong ba nhà in chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, cùng với nhà in Tân Định (Sài Gòn) và nhà in Làng Sông (Bình Định).[10] Tiếp đến, nhà in được hiện đại hóa từ năm 1871 dưới sự điều hành của Cố Louis Godard Lạc. Cha Edmond Dupin sau đó đã đưa vào sử dụng chữ in rời (con chữ chì) cho chữ Quốc ngữ thay cho bản khắc gỗ. Nhà in hoạt động suốt năm, sản xuất từ sách kinh, giáo lý đến giáo trình toán, lịch sử, địa lý, cùng rất nhiều ấn phẩm mới cũng như tái bản cũ từ tiếng La Tinh.
Biến động và chuyển đổi
Sau thời kỳ huy hoàng, một bước ngoặt lịch sử nữa diễn ra khi Giáo phận chuyển dịch trung tâm hành chính và tôn giáo từ Sở Kiện về Hà Nội vào những năm 1930. Vào cuối thập niên 1920, Giáo phận bước vào một giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ. Việc sáp nhập và chuyển đổi các cơ sở nhỏ lẻ về thủ đô giúp tăng hiệu quả quản lý và vận hành. Nhà in Kẻ Sở là cơ quan đầu tiên dịch chuyển vào năm 1929 sau 60 năm hoặt động, được đưa về Hà Nội để sáp nhập vào nhà in-nhà sách Trung Hòa trong những tòa nhà mới xây dựng hiện đại hơn.[11] Đặc biệt, Khi Chủng viện Xuân Bích được thiết lập tại Hà Nội, Tòa Giám mục quyết định tập trung tất cả chủng sinh triết học và thần học về đây để đào tạo chính quy. Đại chủng viện Sở Kiện, vốn được coi là “vườn ươm” suốt 70 năm, trở nên không còn cần thiết và chính thức đóng cửa vĩnh viễn vào năm 1937. Các lễ truyền chức linh mục cũng theo đó mà chuyển hẳn về Hà Nội.[12]
Tương tự như chủng viện, Trường Thầy Giảng cũng dừng hoạt động đào tạo tại Sở Kiện trong cùng giai đoạn này. Các lớp đào tạo thầy giảng và toàn bộ cơ chế điều hành mục vụ được đưa về Hà Nội để tập trung hóa việc quản trị. Đến năm 1935, Sở Kiện được ghi nhận là đã “mất đi nhiều vẻ huy hoàng xưa kia” khi dòng chảy nhân sự chuyển dịch hoàn toàn về trung tâm mới.[13] Hà Nội với vị thế là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc giao thương và mở rộng tầm ảnh hưởng của Giáo hội so với vị trí hẻo lánh của Sở Kiện. Như thế, sau khi thời kỳ bách hại đạo (vốn là lý do chính khiến các nhà thừa sai phải chọn Sở Kiện làm nơi ẩn náu an toàn) kết thúc, việc đưa Tòa Giám mục về lại trung tâm đô thị Hà Nội là điều tất yếu.
Dù việc đào tạo chấm dứt, các công trình tại Sở Kiện không bị bỏ hoang ngay lập tức. Năm 1937, các tòa nhà cũ của Đại chủng viện được chuyển đổi thành nhà hưu dưỡng dành cho các linh mục và thầy giảng già yếu, bệnh tật.[14] Ngày nay, quần thể này chỉ còn lại những vết tích nền móng của nhà thờ thuộc chủng viện cũ và các công trình phụ trợ, minh chứng cho một thời kỳ hưng thịnh của trung tâm đào tạo linh mục đầu tiên tại Tây Đàng Ngoài.
Thời kỳ biến động và suy thoái (1954 – 1989)
Sự kiện Hiệp định Geneva năm 1954 đã tạo nên bước ngoặt lớn cho giáo phận miền Bắc nói chung và Sở Kiện nói riêng. Một bộ phận lớn giáo dân và linh mục di cư vào miền Nam, khiến các hoạt động mục vụ cộng đồng quy mô lớn bị suy giảm đáng kể. Trong suốt giai đoạn từ 1954 đến 1989, quần thể kiến trúc hầu như không trải qua cuộc trùng tu lớn nào. Do xây dựng trên vùng đầm lầy cổ với móng bằng gỗ lim, toàn bộ ngôi thánh đường khổng lồ đã bị lún đều xuống thấp hơn mặt bằng xung quanh khoảng 1 mét. Các hạng mục phụ trợ như tòa nhà chủng viện cũ, nhà nguyện Thánh Tâm và văn phòng mục vụ dần rơi vào tình trạng bán hoang phế do chiến tranh và thiếu nguồn lực kinh tế. Dù hạ tầng vật chất xuống cấp, giáo dân Sở Kiện vẫn âm thầm bảo vệ nguyên vẹn các thánh tích tử đạo và phần mộ của bốn Đức Giám mục tiền bối (Retord Liêu, Theurel Chiêu, Puginier Phước và Gendreau Đông) trên cung thánh nhà thờ.[15]
Giai đoạn phục hồi và tái thiết (1990 – 2007)
Bước sang thời kỳ đổi mới, năm 1990, Tổng Giáo phận Hà Nội tiến hành đợt trùng tu quy mô lớn lần đầu tiên để cứu vãn kiệt tác kiến trúc tại Sở Kiện khỏi nguy cơ đổ sập. Các công việc chính gồm gia cố hệ khung chịu lực, xử lý chống dột mái vòm và làm sạch tường gạch đỏ.[16] Sự thành công của đợt trùng tu này đã đưa các tín hữu từ khắp nơi quay trở lại kính viếng thánh tích và hài cốt các anh hùng đức tin.
Tiến trình vinh thăng Tiểu Vương cung Thánh đường (2008 – 2011)
Đây là giai đoạn Sở Kiện khẳng định lại vị thế huy hoàng của mình trong lòng Giáo hội Việt Nam. Năm 2008, Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt chỉ định Sở Kiện là Trung tâm Hành hương các Thánh Tử Đạo cấp Giáo phận Hà Nội.Tiếp đó, ngày 24/11/2009, Sở Kiện được chọn là nơi tổ chức Thánh lễ khai mạc Năm Thánh 2010 của Giáo hội Việt Nam, quy tụ hàng vạn tín hữu. Ngày 23/12/2009, trung tâm chính thức được công nhận danh hiệu cấp Giáo phận.Đặc biệt, ngày 24/06/2010, Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích ban sắc lệnh vinh thăng nhà thờ Sở Kiện lên hàng Tiểu Vương cung Thánh đường với tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.Đến năm 2011, một cuộc đại trùng tu lần hai kéo dài 8 tháng được thực hiện để chuẩn bị cho lễ công bố danh hiệu. Các hạng mục bao gồm: trát lại tường nội thất bằng tông màu sáng, sơn son thiếp vàng lại các bức họa gỗ, thay kính màu và đặt bàn thờ đá nguyên khối. Ngày 08/12/2011, lễ công bố sắc lệnh vinh thăng được tổ chức cách trọng thể.[17]
Trở thành Trung tâm Hành hương Toàn quốc
Biến cố quyết định trong lịch sử, trong cuộc họp thường niên vào ngày 17/04/2024, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chính thức chấp thuận nâng Sở Kiện thành Trung tâm Hành hương Toàn quốc kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Quyết định này đã mang đến cho sở Kiện một sứ mạng lớn lao hơn. Trung tâm sẽ giữ vai trò cổ vũ linh đạo tử đạo, bảo tồn hơn 90 hài cốt và thánh tích tử đạo cùng phát triển khu trưng bày bảo tàng, trở thành điểm đến thiêng liêng cho các đoàn hành hương trong và ngoài nước.
Tóm lại, lịch sử Sở Kiện là một hành trình từ một giáo xứ nhỏ bé ở thế kỷ XVII, trở thành “pháo đài đức tin” vững chắc trong cơn bách hại thế kỷ XIX, và là biểu tượng của sự hồi sinh, giáo dục và văn hóa của Địa phận Tây Đàng Ngoài. Trải qua hơn 350 năm thăng trầm cùng lịch sử dân tộc và Giáo hội, Sở Kiện không chỉ đơn thuần là một quần thể kiến trúc cổ kính mà còn là một “chứng nhân sống động” cho sức sống mãnh liệt của đức tin.
[1] TGP Sài Gòn, Sở Kiện trong dòng thời gian (1862 – 2011), nguồn: tgpsaigon.net.
[2] Lịch sử giáo xứ.doc
[3] X. Mgr Theurel évêque d’Acanthe vicaire […]Morey Joseph, Trang 92, 107
[4] X. Un apôtre français au Tonkin : Mgr Puginier / par C. d’Allenjoye, Paris, Nhà xuất bản P. TÉQUI, 1896. P.51-52.
[5] X. Léon Xavier Girod, “Souvenirs franco-tonkinois: 1879-1886, Saint-Augustin, Paris, 1903, P.44-45.
[6] Ibid. P.42.
[7] Ibid. P.47.
[8] X. Bản báo cáo của Hội thừa sai Paris – 1934.
[9] X. Au Tonkin Occidental – HỒI KÝ CỦA MỘT THỪA SAI, P. 30
[10] TGP Sài Gòn, Sở Kiện trong dòng thời gian (1862 – 2011), nguồn: tgpsaigon.net.
[11] X. Báo cáo năm 1929.
[12] X. Báo cáo năm 1934 và 1937.
[13] X. NĂM THỨ 14 — SỐ 158 — THÁNG 2 NĂM 1935, Hà Nội, Ngày 15 tháng 1.
[14] X. Bản báo cáo của Hội thừa sai Paris năm 1937
[15] X. TGP Sài Gòn, Sở Kiện trong dòng thời gian (1862 – 2011), nguồn: tgpsaigon.net.
[16] Ibid.
[17] Ibid.
